NHÌN LẠI QUÊ HƯƠNG 38 NĂM SAU NGÀY “THẮNG CUỘC”

Gần đây, cuốn “BÊN THẮNG CUỘC” do một nhà báo, nguyên là  cán binh cộng sản thời hậu chiến, viết và xuất bản tại Hoa Kỳ và phổ biến rộng rãi bằng cả sách giấy và sách điện tử, đã gây xôn xao trong trong các cộng đồng người Việt Nam tự do định cư tại nhiều quốc gia trên thế giới, cũng như đối với cả người Việt Nam ở quốc nội. Cũng nhiều lời khen, lắm tiếng chê cho “BÊN THẮNG CUỘC” bởi khách quan mà nhìn nhận thì đấy là một trong những cuốn sách có nhiều thông tin từ cả hai phía. Nhưng theo đa phần những người đã đọc qua thì “BÊN THẮNG CUỘC” chỉ nói lên được một phần ba sự thật, còn lại chỉ toàn là dối trá, nhất là những thông tin liên quan đến Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa, đến các tướng lãnh, đến các chính khách và ngay cả đến các Quân Cán Chính cũng như đồng bào miền Nam trước cũng như sau ngày mất nước.

Tuy nhiên, cứ để những điều dối gian, láo toét của “BÊN THẮNG CUỘC” cho độc giả nhận diện, bởi trắng là trắng, đen là đen, trắng đen không thể nhập nhằng lẫn lộn được. Trong bài này, người viết chỉ muốn một lần nhìn lại quê hương đất nước 38 năm sau ngày “thắng cuộc” để nhẫm xem “BÊN THẮNG CUỘC” đã làm được gì cho đất nước cho dân tộc trong ngần ấy thời gian.


Tất cả mọi người đều nhận thức được rằng chính “BÊN THẮNG CUỘC” đã vi phạm hiệp định Geneva 1954 và hiệp định Paris 1973 khi xua quân xâm lược và bức tử chính thể Cộng Hòa tại miền Nam, xóa tên Việt Nam Cộng Hòa là một quốc gia độc lập, hợp hiến, hợp pháp được Liên Hiệp Quốc và cộng đồng Quốc tế công nhận, khỏi bản đồ thế giới. Nhưng ít ai nhớ rằng không chỉ riêng Việt Nam Cộng Hòa, mà “BÊN THẮNG CUỘC” cũng bức tử luôn  cả một “cái chính phủ” “Cộng Hòa Miền Nam Việt Nam, Độc Lập – Dân Chủ – Hòa Bình – Trung Lập” do chính “BÊN THẮNG CUỘC” nặn ra vào năm 1969, như một chiếc bánh vẽ nhằm hợp pháp hóa hành động xâm lược miền Nam Việt Nam của cộng quân Bắc Việt. Điều cần nhắc lại ở đây là trong hành động bạo ngược này của “BÊN THẮNG CUỘC” có được sự giúp sức của một số trí thức xuẩn động của Miền Nam gồm Huỳnh Tấn Phát,  Phùng Văn Cung, Nguyễn Văn Kiết, Nguyễn Đóa, Trần Bửu Kiếm, Ông Trần Nam Trung, Nguyễn Thị Bình,  Phùng Văn Cung, Cao Văn Bổn, Lưu Hữu Phước, Nguyễn Văn Kiết, Dương Quỳnh Hoa và  Trương Như Tảng là toàn bộ nội các của cái chính phủ bị chú phỉnh đó. Đây là những con người hoang tưởng mà quá tham vọng quyền lực trong một chính phủ trung lập ở Miền Nam, nên đã đi “cầm cu cho chó đái” suốt từ tháng 6 năm 1969 cho đến tháng 7 năm 1976 là thời điểm mà đảng cộng sản Việt Nam tuyên bố rằng “Chính phủ Cách mạng Lâm thời Cộng hòa Miền Nam Việt Nam đã hoàn thành vai trò trong cuộc chiến tranh Việt Nam và chính thức chấm dứt mọi hoạt động của mình.” tức là hô biến. Tất nhiên đó là thời điểm mà các nhân sỹ trí thức hoang tưởng và xuẫn động đó nhận ra rằng thực ra cái chính phủ rằng “Chính phủ Cách mạng Lâm thời Cộng hòa Miền Nam Việt Nam” và cái nội các của họ chỉ là một tổ chức ma, một tổ chức ảo và là một tổ chức ngoại vi của đảng cộng sản và họ chỉ là những con rối được Bộ Chính Trị của cộng sản Bắc Việt điều khiển cho đến lúc vãn tuồng thì được quăng vào sọt rác. Họ cảm thấy đau như thiến, nhưng đành phải ngồi chơi xơi nước và ngậm bồ hòn mà chờ ngày đi theo các thánh tổ Mác-Lê thôi. Họ cảm thấy đau, đau lắm khi họ nhận ra bản thân là những trí thức đúng nghĩa mà lại bị mắc lừa những kẻ vô học xuất thân là những con người hoang đàng chi địa, những kẻ thiến heo, chăn bò hay cao nhất là phu gác ghi đường sắt.

Nhưng đau thương hơn thế nhiều nữa là hơn 1.100.000 người của “BÊN THUA CUỘC” là những nhân sỹ, trí thức bị “giáo dục lại” bởi những “cán bộ quản giáo” là những người rất ít học, tại hàng trăm trại cải tạo ở những chốn rừng thiêng nước độc mà không ít người vì không bao giờ “thuộc bài” nên đã phải ở lại đó để ‘học tập” đến 17 năm trời và trong số đó đã có đến 165.000 người đã vĩnh viễn gởi lại nắm xương tàn ở chung quanh những trại cải tạo đó vì đòn thù, vì bệnh tật, vì đói khát và vì bị hành hạ. Bên cạnh đó, “BÊN THẮNG CUỘC” cũng đã hành quyết hơn 95.000 người bị quy tội phản động, âm mưu lật đổ chính quyền hay “có nợ máu với nhân dân”.

Không lâu sau khi “Thắng Cuộc”, “BÊN THẮNG CUỘC” cũng đã xua đuổi hơn 1.500.000 thị dân bị quy là thành phần tư sản và tiểu tư sản đến khai hoang lập ấp cũng ở những vùng rừng thiêng nước độc, với mỹ từ “Đi Xây Dựng Vùng Kinh Tế Mới” nhường lại cơ ngơi của họ ở các đô thị cho gia đình, bà con của “BÊN THẮNG CUỘC” đến ở dùm, khiến cho con cái của họ phải thất học vì nghèo đói và vì không có bất cứ một cơ sở giáo dục nào ở giữa chốn thâm sơn cùng cốc đó, hệ lụy là hàng chục ngàn thị dân và con cái của họ cũng đã bỏ mình vì sơn lam chướng khí.

Nhiều người biết rằng vào mùa Xuân 1975 trước khi “BÊN THẮNG CUỘC” chiếm được Sài gòn thì nhiều cuộc công kích đã nổ ra tại nhiều tỉnh thành của miền Trung và Nguyên với hàng hàng cuộc pháo kích vào các đô thị gây ra những cái chết thương tâm của hàng trăm ngàn thường dân ngay khi họ đang trú ẩn tại nhà cũng như khi hàng đoàn dân lành đang gồng gánh con cái xuôi Nam, lánh nạn cộng sản thì hàng chục ngàn người gồm cả người già và trẻ em đã chết dọc đường Quốc Lộ 1 bởi đạn pháo của cộng quân, nhưng chắc ít người biết được rằng cũng vào thời gian đó, mà  chính xác là vào tháng 3 năm 1975, một cánh quân của “BÊN THẮNG CUỘC” đã truy đuổi và bắn trọng pháo trực xạ trong suốt nhiều ngày vào đoàn người di tản suốt theo chiều dài của Tỉnh lộ 7B từ Pleiku xuôi về Duyên Hải và đã nghiền nát hơn 160.000 đồng bào, để lại nỗi tang thương muôn đời cho hàng trăm ngàn thân nhân của họ.

Chính vì vậy mà đồng bào miền Nam đã quá kinh hoàng khi phải đội trời chung với “BÊN THẮNG CUỘC”, nỗi kinh hoàng đó còn vượt trội hơn cả sự gian nguy, đói khát hay chết chóc ngoài biển cả khiến cả 3.000.000 người đã phải liều mình đi tìm sự sống trong cái chết mà theo thống kê của Liên Hiệp Quốc thì phải có đến phân nửa số người đi tìm tự do đó đã vĩnh viễn không đến được bến bờ nào cả mà xấp xỉ 1.500.000 người, cả nam phụ lão ấu, cả thân hào nhân sỹ là nguyên khí của quốc gia cũng đã phải nằm lại muôn đời với biển cả.

Nhưng nhiều điều đó vẫn chưa phải là mục tiêu tối thượng của “công cuộc giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước” của “BÊN THẮNG CUỘC”, mà mục tiêu cuối cùng là biến Việt Nam thành một Tân Cương, một Tây Tạng ở Đông Nam Á và biến người Việt thành một sắc tộc thiểu số trên chính quê hương của mình và tự biến các lãnh đạo của đất nước trở thành những Thái Thú của Bắc Triều.

Để thực hiện mục tiêu đó, về mặt đối ngoại, “đảng và nhà nước” tăng cường hợp tác toàn diện với Bắc Kinh trên tinh thần 4 tốt và 16 chữ vàng, từng bước dâng nhượng đất đai vùng biên giới, đất rừng đầu nguồn cùng hàng triệu cây số vuông mặt nước biển và hai quần đảo Hoàng Sa – Trường Sa cho mẫu quốc Trung cộng cùng với việc đón tiếp hàng  chục ngàn thương gia của Trung cộng sang điều hành các công ty xí nghiệp, các trung tâm thương mại để buôn bán các loại hàng hoá sản xuất từ bản quốc Trung cộng cho người tiêu dùng Việt nam, cùng với việc đón tiếp hàng trăm ngàn công nhân quốc phòng đến khai thác Bô xit ở Tây Nguyên, đến xây dựng các công trình, nhà máy do các công ty của Trung cộng thắng thầu. Trong khi đó tỉ lệ thất nghiệp thường xuyên của người Việt hiện lên đến hơn 70% dân số. Nhiều người phải mưu sinh bằng nghề nhặt rác, bán sức lao động tại các khu chợ cơ bắp với những công việc nặng nhọc nhưng rất thất thường nên cuộc sống của họ chỉ là những chuổi tháng ngày lo âu và đói khát triền miên… Lầu đài phố xá càng mọc lên sầm uất để càng tạo lên cái dáng vẻ phồn vinh dường như thể đất nước đã chuyển mình… thì số lượng người dân nghèo đói ăn, đứt bữa lại càng tang, nhiều người phải phá rừng phải chấp nhận làm kiếp lâm tặc để gia đình con cái không phải bị chết đói. Khắp các đô thị của Lào, Cambodge, Thái Lan, Mã lai, Tân Gia Ba… đâu đâu cũng có người Việt đi xin ăn, đi trộm cắp, móc túi hoặc đi bán trôn nuôi miệng. Từ các nước cùng Châu Á cho đến Châu Âu và mãi đến tận Châu Phi đâu đâu cũng có hằng trăm ngàn cho đến hàng triệu lao nô người Việt. Nhưng đó thực ra chưa phải là bộ mặt hoàn chỉnh của đất nước Việt Nam 38 năm sau khi đặt dưới quyền cai trị của “BÊN THẮNG CUỘC”, bởi dẫu chưa có những vụ cha mẹ phải ăn thịt con hoặc người phải ăn thịt người để sống như ở Bắc Hàn hay Trung Cộng, nhưng việc cha mẹ phải báncon đi làm nô lệ tình dục, anh chị em họ hàng, bè bạn và những kẻ đang yêu cũng lừa bán nhau qua biên giới, vào những động mại dâm là điều chưa bao giờ xãy ra trong xã hội miền Nam của 38 năm trước, nhưng lại quá phổ biến trong xã hội Việt Nam ngày nay. Nhưng đâu phải chỉ có thế thôi, bởi trong xã hội của “BÊN THẮNG CUỘC”, cái ác đã trở thành một thứ tôn giáo phổ thong mà số tín đồ của tôn giáo này đang gia tăng với cấp số nhân mà công bội là một gia số tỷ lệ thuận với số lượng đảng viên CS được phát triển mới hàng năm: Chưa bao giờ trong xã hội Việt Nam trước đây mà số những vụ việc cướp của giết người lại xãy ra thường xuyên và độ tuổi của kẻ thủ ác lại trẻ hóa như ở thiên đường XHCN của “BÊN THẮNG CUỘC”, hiện nay, những kẻ giết người cướp của có cả độ tuổi “thần tiên’ 13, 14 cả nữ lẫn nam, cả học sinh còn ngồi trên ghế nhà trường lẫn những cán bộ viên chức nhà nước, kể cả công an, bộ đội, hay vợ con của những đảng viên cao cấp, mà lắm khi giết chết một mạng người chỉ để cướp một món vật dụng chẳng giá trị là bao như một chiếc điện thoại cầm tay, một chiếc xe máy đã qua sử dụng hay thậm chí chỉ là một món nữ trang mà đôi khi chỉ là hàng mỹ ký. Chưa bao giờ mà nền tảng đạo đức xã hội lại băng hoại như ở Việt Nam ngày nay: Người đứng đầu chính phủ thì tham ô những lại tới mức quốc dân phải gánh số nợ công lên đến hàng trăm tỷ đô la, nên nỗi người dân Việt vốn đã đói nghèo, vậy mà mỗi đầu người phải gánh số nợ xấp xỉ 1.000 đô la trong khi thu nhập mỗi ngày của họ chưa đến 1 đô la thì người dân Việt phải sống như thế nào đây? Các các quyền thuộc cấp thì ngoài ăn chơi sa đọa bằng tiền máu xương của nhân dân, còn thêm trò mua ấu dâm với những trẻ con chỉ ở độ tuổi bằng cháu nội, cháu ngoại. “Lương sư, hưng quốc” nhưng lại quá phổ biến nạn thầy giáo cưỡng dâm học trò lớp ba lớp bốn, hiệu trưởng thì môi giới cho nữ sinh trung học bán dâm cho quan chức cấp tỉnh, giảng viên đại học thì gạ tình sinh viên để đổi lấy điểm thi.

 Có thể nói rằng xã hội Việt Nam sau 38 năm dưới sự cai trị của “BÊN THẮNG CUỘC”, đã quá loạn lạc đến độ không thể loạn lạc hơn: Vợ đốt chồng để dễ dàng thông dâm với các quan chức, chồng giết vợ phi tang xác dưới sông hay bạn bè đồng nghiệp chỉ vì bất hòa nhỏ trong cuộc sống, trong công việc mà giết hại lẫn nhau rồi chặt xác ra từng mảnh và cho vào bao bố để phi tang…  Đã có bao giờ trước đây hay có nơi nào trên thế giới hiện nay người ta coi sinh mạng của con người như rác, như rơm, để việc giết người, thậm chí là giết cả người thân yêu một cách quá đơn giản như giết một con sâu, con kiến, như ở Việt Nam hiện nay không? Phải chăng đây là nghiệp chướng của quê hương hay hay chỉ do sự suy đồi đạo đức của xã hội do con người không biết trân trọng nền giáo dục khai phóng và nhân bản mà chỉ coi trọng “tư tưởng và đạo đạo đức Hồ Chí Minh” và chỉ học theo “đạo đức Hồ chí Minh” khiến cho xã hội băng hoại và loạn lạc ra như thế?

Sao các trí tuệ đỉnh cao không thấy được những việc này để có thể có được những quyết sách khả dĩ có thể giúp chấn hưng nòi giống và phục hưng nền tảng đạo đức xã hội, mà chỉ đầu tư tiền bạc từ các nguồn thuế thu từ xương máu của nhân dân để mở mang nhà tù, để gia cố trại giam mà giam cầm những người yêu nước? Sao lại biến cả dân tộc Việt Nam thành những con người nô lệ, phải cúi đầu phải vâng phục, phải lắng nghe và tuyệt đối tin tưởng vào đảng cộng sản và sự lãnh đạo của đảng, cho dù đảng đang bán dần đất đai của tổ quốc và đang đặt dân tộc trước một hiểm họa bị đồng hóa và đặt đất nước nước trước một đại họa mất hoàn toàn vào tay giặc, để cho những người con của dân tộc nặng lòng với vận mệnh của quê hương đất nước, với sơn hà xã tắc phải lụy chốn lao tù? Con người ta hơn các loài vật khác là nhờ con người ta biết tư duy và biết sống theo lý trí chứ không phải bản năng. Vậy sao “BÊN THẮNG CUỘC” lại cấm không cho người dân Việt được tư duy, được sống và hành động theo lý trí, mà lại buộc cả 90 triệu đồng bào Việt Nam phải sống chỉ bằng bản năng rằng “đảng bảo đi là đi đảng bảo đứng là đứng”? Và ngay cả những người Việt Nam đã vượt thoát mọi sự kiềm tỏa của “BÊN THẮNG CUỘC”, đã định cư ở các nước tự do hàng thập kỷ nay rồi sao lại cấm đoán, không cho họ tham gia vào các đảng phái chính trị nào? Sao lại bắt bớ, lại giam cầm  “những khúc ruột ngàn dặm” đó khi họ về lại thăm lại cố hương? Sao lại quy kết cho họ tội danh “âm mưu lật đổ chính quyền” như đã từng quy kết cho những trí thức, sỹ phu, những người ở quốc nội yêu nước mà không yêu chế độ cộng sản? Những người nặng lòng với đất nước đó cũng đã từng bị kết tội “âm mưu lật đổ chính quyền” hay “tuyên truyền chống nhà nước” hay “làm giảm lòng tin của nhân dân đối với đảng”? Xin thưa rằng cả 90 triệu người dân Việt Nam hiện nay chẳng còn ai có một chút ít lòng tin nào vào đảng cộng sản và chế độ cộng sản cả! Cả thế giới loài người đều đã biết quá rõ cộng sản là gì rồi. Và người Việt Nam cũng đã biết được điều này. Tiếc rằng sau 38 năm cầm quyền, “BÊN THẮNG CUỘC” đã biến đất nước Việt Nam thành một nhà tù lớn với hàng chục ngàn nhà tù nhỏ để giam cầm, để đọa đày những con dân đất Việt nặng lòng với dân tộc với quê hương, cho nên quê hương Việt Nam mới ngày càng điêu tàn, dân tộc Việt Nam mới ngày càng đớn hèn và nhu nhược như thế này!

Đây là một bức tranh toàn cảnh của quê hương Việt Nam 38 năm sau ngày “THẮNG CUỘC”. Và ai mà biết được rằng sau 38 năm nữa, liệu người Việt trên quê  mình có còn được phép nói tiếng Việt nữa hay không?

Ngày cuối năm Nhâm Thìn 2013

Nguyễn Thu Trâm, 8406

Share This Post
This entry was posted in Quan Điểm và Bình Luận and tagged , , , . Bookmark the permalink.

6 Responses to NHÌN LẠI QUÊ HƯƠNG 38 NĂM SAU NGÀY “THẮNG CUỘC”

  1. Tù Cải Tạo: Tội ác chống nhân loại của Cộng sản VN

    Đỗ Ngọc Uyển

    Sau khi chiếm được chính quyền tại Miền Bắc Việt Nam vào năm 1954, Hồ Chí Minh đã bê nguyên cái mô hình “hoc tập cải tạo” của Mao Trạch Đông từ Trung Cộng vào Miền Bắc Việt Nam. Đây là một kế hoạch nằm trong chính sách giết người có chủ đích, có tính toán dưới cái chiêu bài giả hiệu là “cải tạo” những người chống đối chủ nghĩa xã hội để trở thành công dân của nước xã hội chủ nghĩa. Với kế hoạch “cải tạo giết người” này, Hồ Chí Minh đã giết và thủ tiêu 850,000 người dân Miền Bắc trong những cái gọi là “trại học tập cải tạo.”

    Sau ngày 30-4-1975, lũ Việt gian cộng sản cũng tiếp tục kế hoạch giết người này, và chúng đã giết và thủ tiêu 165,000 quân, cán, chính VNCH và những người quốc gia trong 150 “trại cải tạo” của chúng trên toàn lãnh thổ Việt Nam.

    “Học Tập Cải Tạo” Bắt Đầu tại Miền Bắc Việt Nam

    Để xây dựng xã hội chủ nghĩa tại Miền Bắc Việt Nam, Hồ Chí Minh đã tiêu diệt tất cả những thành phần chống đối bằng những kế hoạch khủng bố sắt máu như: Rèn Cán Chỉnh Quân, Cải Tạo Công Thương Nghiệp, Cải Cách Ruộng Đất, và đàn áp những phong trào Nhân Văn Giai Phẩm, Trăm Hoa Đua Nở… Số nạn nhân của những vụ khủng bố này không ai biết là bao nhiêu, nhưng có thể ước tính là trên một triệu người, bởi vì chỉ riêng vụ gọi là Cải Cách Ruộng Đất đã có 700,000 nạn nhân. Nói chung, cho tới đầu năm 1960 toàn thể xã hội Miền Bắc đã bị “cào bằng,” không còn giai cấp (social class). Các giai cấp trí, phú, địa, hào đã bị đào tận gốc, trốc tận rễ. Không ai có quyền tư hữu và mọi người đều nghèo khổ, đói rách như nhau. Mỗi năm, mỗi người được phát 2 thước vải thô Nam Định chỉ có thể may được một cái quần hay một cái áo, và hàng tháng được phát 15kg gạo, 200gr đường… Chưa hết, với chủ trương tuyệt diệt những thành phần chống đối, Hồ Chí Minh đã chỉ thị cho cái quốc hội bù nhìn “ban hành” một nghị quyết về “học tập cải tạo.” Đây là một mẻ lưới “vĩ đại” cuối cùng nhằm vét hết những thành phần có thể gây cản trở cho công cuộc xây dựng xã hội chủ nghĩa của y. Các trại “cải tạo” của Hồ Chí Minh được rập theo đúng khuôn mẫu các trại “lao cải” (laogai hay laojiao) của Mao Trạch Đông. . . Theo lệnh của Hồ, quốc hội cộng sản đã “ban hành” một Nghị Quyết (Resolution) về “học tập cải tạo” mang số 49-NQTVQH ngày 20-6-1961. Căn cứ vào nghị quyết này, hội đồng chính phủ đã “đẻ” ra cái Thông Tư (General Circular) số 121-CP ngày 8-9-1961 để áp dụng trong toàn nước Việt Nam Dân Chủ Cộng Hoà. Những nạn nhân bị chi phối bởi cái nghị quyết trên gồm những thành phần sau đây:

    1. Tất cả những gián điệp nguy hiểm, những biệt động; tất cả những quân nhân và viên chức hành chánh của chính quyền quốc gia trước đây.
    2. Tất cả những nhân vật nòng cốt của các tổ chức và đảng phái đối lập.
    3. Tất cả những thành phần ngoan cố thuộc giai cấp bóc lột và những kẻ chống phá cách mạng.
    4. Tất cả những kẻ chống phá cách mạng đã bị tù và hết hạn tù nhưng không chịu cải tạo.
    Bốn thành phần trên đây đều có một đặc điểm chung mà cộng sản gọi là “những thành phần ngoan cố, chống phá cách mạng.” (obstinate counter-revolutionary elements). Thời gian “cải tạo” được ấn định là 3 năm, nhưng sau 3 năm mà chưa “tiến bộ” thì “cải tạo” thêm 3 năm nữa và cứ như thế tiếp tục tăng thêm 3 năm nữa… cho đến khi nào “học tập tốt, cải tạo tốt” thì về, thực tế là vô thời hạn. Ngoài Hồ Chí Minh và những tên đồng đảng ra, không ai biết được số nạn nhân bị đưa đi “cải tạo” là bao nhiêu; nhưng có thể ước tính là nhiều triệu người, căn cứ vào con số nạn nhân chết trong các “trại cải tạo” là 850,000 người do Tổ Chức Tưởng Niệm Nạn Nhân Cộng Sản (The Victims of Communism Memorial Foundation) đưa ra: (…When Ho Chi Minh sent 850,000 Vietnamese to their graves in reeducation camps …)

    “Học Tập Cải Tạo” tại Miền Nam Việt Nam

    Cộng sản ước tính rằng tại Miền Nam có 1,300,000 người đã tham gia vào chính quyền Quốc Gia và Quân Lực Việt Nam Cộng Hoà, và mỗi gia đình có 5 người; như vậy là có 6,500,000 người có nợ máu với chúng. Những người nào phục vụ trong quân đội hay trong chính quyền thì phải đi “cải tạo” và những thành phần còn lại trong gia đình thì phải đi những “khu kinh tế mới;” cũng là một cách đưa đi đầy ải tại những vùng rừng núi xa xôi, hẻo lánh. Đây là một kế hoạch “tắm máu trắng” đã được nghiên cứu và tính toán rất kỹ của của tập đoàn Việt gian cộng sản.

    Một tháng sau khi xâm chiếm được Miền Nam, lũ bán nước cộng sản áp dụng Nghị Quyết số 49-NQTVQH ngày 20-6-1961 và Thông Tư số 121-CP ngày 8-9-1961 của chúng để đưa một triệu quân, cán, chính VNCH và những người quốc gia chống cộng đi “học tập cải tạo,” thưc chất là đưa đi tù để trả thù (revenge). Đây là cung cách hành xử man rợ của thời trung cổ. Và bằng lối hành xử dã man, rừng rú này, cộng sản đã phạm 5 trong số 11 Tội Ác chống Nhân Loại [1] (Crimes against Humanity) theo luật pháp quốc tế được dự liệu tại Điều 7 của Đạo Luật Rome (Article 7 of The Rome Statute) như sau:

    Tội ác thứ 1 – Tội cầm tù hay tước đoạt tự do thân thể một cách nghiêm trọng, vi phạm những điều luật căn bản của luật pháp quốc tế (Imprisonment or other severe deprivation of physical liberty in violation of fundamental rules of international law)

    Những người bị cộng sản cầm tù (imprisonment) sau ngày 30-4-1975 là những người bị cộng sản trả thù vì lý do chống cộng tức lý do chính trị. Cộng sản không thể mang những người này – công dân của một một quốc gia độc lập đã bị Việt gian cộng sản, tay sai của Quốc Tế 3, xâm chiếm bằng vũ lực (aggression) một cách phi pháp – ra toà án để kết tội. Cộng sản nguỵ biện một cách láo xược rằng những người này là những tội phạm chiến tranh (war criminals) theo điều 3 của đạo luật về tội chống phá cách mạng ban hành ngày 30-9-1967 của chúng (article 3 of the 30 October 1967 law on counter-revolutionary crimes) và rằng nếu mang ra tòa án xét xử thì những người này có thể bị kết án từ 20 năm tù đến chung thân hay tử hình; nhưng vì chính sách “khoan hồng” và sự “chiếu cố” của đảng nên những người này được đưa đi “học tập cải tạo” thay vì đưa ra toà án xét xử. Đây là một sự nguỵ biện trơ trẽn và lếu láo. Luật rừng rú của đảng cộng sản không có một chút gì gọi là công lý của thời đại văn minh mà chỉ là một công cụ man rợ của thời trung cổ để khủng bố người dân Miền Bắc dưới sự thống trị của chúng, và không thể mang ra áp dụng cho công dân của một quốc gia văn minh như VNCH được.

    Tóm lại, giam cầm người không chính thức kết án, không xét xử (imprisonment without formal charge or trial) là vi phạm nhân quyền và là Tội Ác chống Loài Người.

    Tội ác thứ 2 – Tội tra tấn, hành hạ (Torture)

    Đối với cộng sản, các quân, cán, chính Việt Nam Cộng Hoà và những người quốc gia chống cộng là kẻ thù không đội trời chung của chúng. Do đó, một khi đã sa cơ rơi vào tay chúng là dịp để chúng trả thù bằng tra tấn và hành hạ. Mục đích trả thù của chúng là nhằm tiêu diệt hết khả năng chống cự của cả thể chất lẫn tinh thần của người tù. Sau đây là vài đòn thù tiêu biểu:

    a. Hành hạ bằng cách bỏ đói – Đây là một đòn thù thâm độc nhằm tiêu diệt ý chí của người tù về lâu về dài. Người tù bị đói triền miên, không còn nghĩ đến chuyện gì khác ngoài miếng ăn. Quanh năm suốt tháng không một bữa được ăn no; càng ăn càng đói và đói cho tới khi chết. Ngay cả trong giấc ngủ cũng chỉ mơ đến miếng ăn. Bát cơm và miếng thịt là một ước mơ xa vời. Trên nguyên tắc, mỗi người tù được cấp mỗi tháng 12kg gạo. Nhưng thực tế, người tù chỉ được cấp ngô, khoai, sắn, bo bo… tương đương với 12kg gạo mà chúng gọi là “quy ra gạo.” Ngô, khoai, sắn và bo bo mà chúng cho tù ăn là những thứ được cất giữ lâu ngày trong những kho ẩm thấp, bị mục nát, hư hỏng và đầy sâu bọ. Với số lượng và phẩm chất lương thực như thế, tính ra chỉ cung cấp đươc khoảng từ 600 đến 800 calories một ngày, không đủ để sống cầm hơi, lại phải làm công việc khổ sai nặng nhọc cho nên đã có rất nhiều tù nhân chết vì đói, vì suy dinh dưỡng. Sau đây là một ví dụ: vào cuối năm 1978, tại trại 2 thuộc liên trại 1 Hoàng Liên Sơn có một anh bạn tù vì “lao động” nặng nhọc và suy dinh dưỡng đang nằm chờ chết. Anh em bạn tù thấy vậy bèn hỏi xem anh ta có muốn nhắn gì về cho vợ con hay người thân không? Anh bạn tù sắp chết nói rằng anh ta chỉ muốn được ăn no một bữa khoai mì luộc! Nghe vậy, có một anh tù, vì thương bạn, đã mạo hiểm chui qua hàng rào, đào trộm vài củ khoai mì do chính tù trồng, mang về luộc, rồi mang lên cho bạn thì anh bạn đã chết. Thỉnh thoảng tù cũng được cho ăn cơm nhưng lại độn hai phần sắn hay khoai với một phần gạo, và mỗi bữa ăn, mỗi người được phân phát một chén nhỏ với nước muối. Đến mùa “thu hoạch” ngô và khoai mì do tù trồng, anh em tù cũng được cấp phát ngô và khoai mì luộc. Mỗi bữa ăn được phân phát hai cái bắp ngô, chỉ đếm được chừng 1000 hạt, và khoai mì thì được cấp phát hai khúc, mỗi khúc ngắn độ một gang tay. Còn thịt thì chỉ được cấp phát vào những dịp đặc biệt như ngày tết Nguyên Đán, ngày lễ độc lập của chúng, ngày sinh nhật “Bác”của chúng; mỗi phần ăn được khoảng 100gr thịt heo hay thịt trâu.

    Bỏ đói tù là một thủ đoạn tra tấn/hành hạ (torture) đê tiện, có tính toán của cộng sản. Ngoài việc huỷ diệt ý chí của người tù, sự bỏ đói còn nhằm huỷ hoại thể chất của người tù để không còn sức đề kháng chống lại bệnh tật. Do đó, đã có rất nhiều anh em mắc những chứng bệnh do suy dinh dưỡng như lao phổi, kiệt sức, phù thũng, kiết lỵ, ghẻ lở…, và có rất nhiều cái chết rất đau lòng chỉ vì đói, vì suy dinh dưỡng, vì thiếu thuốc men và không được chữa trị…

    b. Hành hạ thể xác – Cộng sản vẽ ra khẩu hiệu “lao động là vinh quang.” Chúng bắt người tù phải làm công việc khổ sai nặng nhọc như cuồc đất, đào đất, làm đường, đào ao, chặt cây, đốn gỗ, cưa xẻ, làm gạch…Người tù đã thiếu ăn, kiệt sức; chúng lại đặt ra những chỉ tiêu cao để người tù không thể đạt được, và chúng kiếm cớ để hành hạ thể xác:

    •Cắt tiêu chuẩn lương thực từ 12kg xuống còn 9kg và nhốt vào conex, khoá chặt. Người tù bị nhốt như vậy có khi hàng tháng. Với sức nóng mùa Hè và khí lạnh mùa Đông không thể chịu đựng nổi, người tù bị chết vì sức nóng và chết vì rét.
    •Cắt tiêu chuẩn lương thực xuống còn 9kg; nhốt trong sà lim; hai chân bị cùm siết chặt đến chảy máu; da thịt bị nhiễm trùng, lở loét; người tù bị nhốt như vậy trong nhiều tháng trời và khi được thả ra chỉ còn da bọc xương, đi không nổi phải bò.
    •Chúng cột người tù vào một cây cột và bắt người tù phải đứng thẳng hoặc nằm hay ngồi cả tuần lễ có khi lâu hơn.
    •Chúng trói người tù theo kiểu cánh bướm “butterfly style or contorted position” bằng cách bắt một cánh tay bắt chéo qua vai và cánh tay kia bắt qua sau lưng và cột chặt hai ngón tay cái với nhau. Chúng cột người tù trong tư thế bị trói như vậy vào một cái cột và bắt đứng trong nhiều tiếng đồng hồ. Người tù chịu không nổi, bị ngất xỉu.
    Trên đây chỉ là vài cách hành hạ (torture) thể xác tiêu biểu. Cộng sản còn nhiêu kiểu hành hạ độc ác khác như nhốt người tù vào chuồng cọp hay bỏ xuống những giếng nước khô cạn, bỏ hoang lâu ngày, đầy những ổ rắn rết…

    c. Tra tấn tinh thần – Mục đích của cộng sản là làm cho tinh thần người tù luôn luôn bị căng thẳng để gây tổn thương trầm trọng cho sức khoẻ thể chất và tinh thần (causing serious injury to physical and mental health) bằng hai phương pháp sau đây:

    - Nhồi sọ chính trị (Political indoctrination) – Để mở đầu kế hoạch “cải tạo,” cộng sản bắt người tù phải học 9 bài chính trị. Mỗi bài phải học từ một tuần lễ đến 10 ngày gồm: lên lớp, thảo luận trong tổ, trong đội… Cuối mỗi bài học, người tù phải viết một bản gọi là “thâu hoạch” để nộp cho chúng. Nội dung những bài học gọi là chính trị này chỉ là những bài tuyên truyền rẻ tiền như: Mỹ là tên đầu sỏ đế quốc, là con bạch tuộc có hai vòi: một vòi hút máu nhân dân Mỹ và một vòi hút máu nhân dân nước ngoài. Ta đánh Mỹ cũng là giải phóng cho nhân dân Mỹ thoát khỏi sự bóc lột của đế quốc Mỹ. Đế quốc Mỹ là con hổ giấy. Mỹ giầu nhưng không mạnh. Ta nghèo nhưng ta mạnh.

    Dưới sự lãnh đạo của đảng quang vinh, ta đã đánh thắng tên đế quốc sừng sỏ nhất thời đại. Nguỵ quân, nguỵ quyền là tay sai của đế quốc Mỹ, có nợ máu với nhân dân và là tội phạm chiến tranh…Bài học cuối cùng là bài “lao động là vinh quang” để chuẩn bị bắt người tù làm những việc khổ sai nặng nhọc.

    Những bài tuyên truyền rẻ tiền và ấu trĩ trên đây chỉ có thể áp dụng cho người dân bị bưng bít và thiếu học ở Miền Bắc đã bị cộng sản u mê hoá chứ không có tác dụng gì đối với những người đã sống dưới chính thể tự do tại Miền Nam. Tuy nhiên, cái không khí khủng bố của trại tù đã làm cho một số anh em hoang mang và căng thẳng tinh thần. Do đó, đã có một số người tự sát và trốn trại. Những người trốn trại chẳng may bị bắt lại đã bị chúng mang ra toà án nhân dân của chúng kết tội và bắn chết ngay tại chỗ. Đây là đòn khủng bố tinh thần phủ đầu của cộng sản theo kiểu “sát nhất nhân, vạn nhân cụ.”

    - Tự phê (Confession) – Tiếp theo phần “học tập chính trị” là phần “tự phê.” Người tù phải viết một bản tiểu sử kể từ khi còn nhỏ cho tới khi vào tù; phải kê khai thành phần giai cấp của dòng họ từ ba đời trước cho đến con cháu sau này; phải kê khai những việc làm trong quá khứ và phải kết tội những việc làm đó là gian ác cũng như phải tự kết tội mình có nợ máu với nhân dân. Người phát thư cũng bị kết tội là đã chuyển thư tín giúp cho bộ máy kìm kẹp của nguỵ quân, nguỵ quyền. Các vị tuyên uý trong quân đội bị kết tội là đã nâng cao tinh thần chiến đấu của nguỵ quân. Các bác sĩ quân y thì bị kết tội là đã chữa trị cho các thương, bệnh binh để mau chóng phục hồi sức chiến đấu của nguỵ quân…Tóm lại, tất cả nguỵ quân, nguỵ quyền đều là những thành phần ác ôn, có nợ máu với nhân dân và phải thành khẩn khai báo những tội ác cũng như phải thành khẩn lao động sản xuất để sớm được đảng cứu xét cho về đứng “trong lòng dân tộc.” Trong suốt thòi gian bị tù, người tù phải liên tiếp viết những bản tự phê; phải moi óc tìm và “phịa” ra những “tội ác” để tự gán và kết tội mình, và nếu bản viết lần sau thiếu vài “tội ác” so với bản viết lần trước, anh sẽ bị kết tội là vẫn còn ngoan cố và thời gian học tập sẽ còn lâu dài.

    “Tự phê” một đòn tra tấn tinh thần rất ác ôn. Nó làm cho người tù bị căng thẳng tinh thần triền miên kể cả trong giấc ngủ và đã có một số anh em gần như phát điên, la hét, nói năng lảm nhảm và có người đã tự vẫn…

    Tội ác thứ 3 – Tội giết người (Murder)

    Những anh em trốn trại bị bắt lại đã bị cộng sản mang ra xử tại toà án nhân dân của chúng và bị bắn chết ngay tại chỗ. Đây là tội ác giết người (murder) bởi vì trên danh nghĩa cũng như theo pháp lý thì những người này chỉ là những người đi học tập. Và khi một người đi học tập mà trốn trại học tập là chuyện rất thường tình, không có tội lỗi gì đối với pháp luật. Nhưng đối với bọn vô nhân tính cộng sản thì không thể nói chuyện lý lẽ với chúng được. Vào một ngày cuối năm 1975, tại trại giam Suối Máu, Biên Hoà, chúng mang hai anh sĩ quan cấp uý trốn trại bị bắt lại ra xử tại toà án nhân dân rừng rú của chúng được thiết lập ngay trong trại giam. Trước khi mang ra xử, chúng đã tra tấn hai anh này đến mềm người, rũ rượi, xụi lơ, không còn biết gì nữa. Ngồi trên ghế xử, tên “chánh án” cùng ba tên đồng đảng giết người mặt sắt đen sì, răng đen mã tấu, dép râu, nón cối, ngập ngọng giọng Bắc Kỳ 75 đọc xong “bản án giết người” đã viết sẵn và ngay lập tức chúng mang hai anh ra bắn chết cạnh hai cái hố đã đào sẵn. Buổi trưa hôm đó bầu trời Biên Hoà có nắng đẹp, nhưng khi tiếng súng giết người nổ vang lên, mây đen bỗng kéo đến phủ tối cả bầu trời và đổ xuống những hạt mưa nặng hạt. Tất cả anh em trong trại giam lặng lẽ cúi đầu tiễn đưa hai đồng đội sa cơ, thất thế.

    Ngoài cách giết người rừng rú trên đây, cộng sản còn chủ tâm giết người bằng nhiều cách khác như cho ăn đói và bắt làm khổ sai nặng nhọc để chết dần chết mòn; để cho chết bệnh, không cung cấp thuốc men, không chữa trị; bắt làm những việc nguy hiểm chết người như gỡ mìn bằng tay không…

    Tội ác thứ 4 – Tội bắt làm nô lệ (Enslavement)

    Người tù phải sản xuất lương thực như trồng sắn, trồng ngô, trồng khoai, trồng rau…để tự nuôi mình; ngoài ra, còn phải sản xuất hàng hoá, sản phẩm để bán ra ngoài thị trường. Tại các trại tù trong vùng rừng núi Hoàng Liên Sơn, người tù phải đốn gỗ, cưa xẻ, chặt giang, chặt nứa, chặt vầu… để trại tù mang đi bán. Tai trại tù Hà Sơn Bình có những đội cưa xẻ, đội mộc, đội gạch để sản xuất bàn, ghế, giường, tủ và gạch để bán. Tại trại tù Z30D, Hàm Tân, người tù phải trồng mía, sản xuất đường; mỗi tháng bán hàng tấn đường ra ngoài thị trường… Cộng sản bắt người tù phải làm công việc như người nô lệ thời trung cổ khi phe thắng trận bắt người bên phe thua trận phải làm nô lệ lao động (slave labour) thay vì mang đi giết. Đây là sự vi phạm nhân quyền một cách man rợ của thời trung cổ và là một Tội Ác chống Loài Người.

    Tội ác thứ 5- Tội thủ tiêu mất tích người (Enforced disappearance of persons)

    Theo các tài liệu nghiên cứu có giá trị hàn lâm tại Hoa Kỳ và Âu Châu thì số nạn nhân chết trong các “trại cải tạo” là 165,000 người. Hiện nay, ngoài cộng sản ra, không ai biết nơi chôn cất các nạn nhân này. Suốt 33 năm nay, chúng không cho thân nhân cải táng để mang hài cốt về quê quán. Đây là đòn thù vô nhân đạo đối với những nạn nhân đã nằm xuống, và là hành vi độc ác (inhumane act) gây đau khổ tinh thần triền miên, suốt đời cho thân nhân các nạn nhân. Chỉ có một số rất ít, không đáng kể, thân nhân các nạn nhân đã chạy chọt, tìm được cách cải táng người thân của họ; còn tuyệt đại đa số 165,000 người tù chính trị được coi như đã bị thủ tiêu mất tích. Đây là chủ tâm trả thù dã man của cộng sản và là một Tội Ác chống Nhân Loại.

    Mới đây nhất, trong cuộc họp với tổng thống George W. Bush tai Bạch Cung ngày 24-6-2008, Việt cộng Nguyễn Tấn Dũng hứa sẽ tiếp tục tìm kiếm và trao cho Hoa Kỳ hài cốt những quân nhân Mỹ mất tích (MIA) trong cuộc chiến VN. Trong khi đó quân cộng sản giết người đang chôn giấu để thủ tiêu mất tích hài cốt của 165,000 quân, cán, chính VNCH và những người quốc gia đã bị chúng sát hại, sau ngày 30-4-1975, trong 150 “trại tù cải tạo” của chúng trên toàn cõi VN. Điều này chứng tỏ rằng lũ Việt gian cộng sản tiếp tục nuôi dưỡng hận thù đối với người Việt quốc gia, ngay cả đối với những người đã nằm xuống, trong khi miệng chúng luôn luôn hô hào hoà hợp hoà giải. “Đừng nghe những gì cộng sản nói; hãy nhìn kỹ những gì chúng làm.”

    Ngoài 5 tội ác chống loài người kể trên, vào năm 1980, cộng sản đã có kế hoạch đưa gia đình những người tù từ Miền Nam để cùng với những thân nhân của họ đang bị tù tại Miền Bắc đi “định cư” tại những “khu kinh tế mới” ở Miền Bắc mà thí điểm đầu tiên là khu Thanh Phong/Thanh Cầm, một khu rừng thiêng nước độc tại Miền Bắc, nơi đang có những “trại cải tạo.” Ý đồ của âm mưu thâm hiểm này là đưa đi đầy chung thân, khổ sai, biệt xứ để giết dần, giết mòn tất cả những người tù cùng với gia đình họ. Đây là một kế hoạch diệt chủng (genocide) được nghiên cứu và tính toán rất kỹ của tập đoàn Việt gian cộng sản. Nhưng trời bất dung gian, chúng không thực hiện được âm mưu diệt chủng này vì cục diện thế giới thay đổi dẫn đến sự phá sản của chủ nghĩa cộng sản trên toàn thế giới, và chúng đã phải thả những nạn nhân của chúng ra để họ đi định cư tại Hoa Kỳ với tư cách là những người tỵ nạn chính trị (political refugees).

    Cái nghị quyết số 49-NQTVQH ngày 20-6-1961 của tên đại Việt gian bán nước Hồ Chí Minh – cho tới ngày hôm nay vẫn còn hiệu lực – là một dụng cụ đàn áp thâm hiểm nhất để chống lại nhân quyền (the most repressive tool against human rights). Suốt nửa thế kỷ vừa qua, bằng cái nghị quyết phản động này, lũ bán nước cộng sản đã và đang tiếp tục đưa hàng triệu, triệu người Việt Nam đi “học tập cải tạo” mà không qua một thủ tục pháp lý nào cả. Với 5 Tội Ác chống Nhân Loại (Crimes against Humanity) như đã trình bày trên đây, bọn Việt gian cộng sản phải bị mang ra xét xử tại Toà Án Hình Sự Quốc Tế [2] (International Criminal Court).

    Số Nạn Nhân Bị Giam Cầm, Số Nạn Nhân Chết và Số “Trại Tù Cải Tạo”

    Theo sự ước tính của các tài liệu nghiên cứu có tính hàn lâm tại Hoa Kỳ và Âu Châu đã được phổ biến “…According to the published academic studies in the United States and Europe…” thì số nạn nhân và số các “trại tù cải tạo” được ước tính như sau:

    •1 triệu nạn nhân đã bị giam giữ không bị chính thức kết tội hay xét xử (without formal charge or trial).
    •165,000 nạn nhân chết tại các “trại tù cải tạo.”
    •Có ít nhất 150 “trại tù cải tạo” sau khi Sàigòn sụp đổ.
    Thời Gian “Cải tạo”

    Có những nạn nhân đã bị giam giữ tới 17 năm, và theo Bộ Ngoại Giao Hoa Kỳ thì đại đa số nạn nhân bị giam giữ từ 3 tới 10 năm, và tính trung bình mỗi người phải trải qua 5 trại giam. “…according to the U.S. Department of State, most term ranging from three to 10 years…” Nếu lấy con số trung bình là 7 năm tù cho mỗi người thì số năm tù của một triệu nạn nhân là 7 triệu năm. Đây là một tội ác lịch sử không tiền khoáng hậu của bọn Việt gian cộng sản; vượt xa cả tội ác một ngàn năm của bọn giặc Tầu và một trăm năm bon giặc Tây cộng lại.

    Món Nợ của Hoa Kỳ Đối Với Đồng Minh.

    Chính phủ Hoa Kỳ công nhận những người bị giam cầm (imprisonment) này là những ngưòi tù chính trị, và đã điều đình với phỉ quyền cộng sản để cho những người này được thả ra để cùng với gia đình đi đinh cư tỵ nạn tại Mỹ ưu tiên theo Chương Trình Ra Đi Có Trật Tự (Orderly Departure Program) đối với những người bị giam cầm từ 3 năm trở lên. “…The U.S. government considers reeducation detainees to be political prisoners. In 1989 the Reagan administration entered into an agreement with the Vietnamese government, pursuant to which Vietnam would free all former AVN soldiers and officials held in reeducation camps and allow them to immigrate to the United States… that gives priority to those who spent at least three years in reeducation…”

    Hoa Kỳ coi việc đưa những người tù chính trị này sang định cư tỵ nạn tại Mỹ là để trả một món nợ quốc gia đối với đồng minh trong thời chiến. Những người này đã bị giam cầm vì đã cộng tác mật thiết với Hoa Kỳ trong cuộc chiến. “… Resettling this group will be a step toward closing out this nation’s debt to its Indochina wartime allies. “These people have been detained because of their closed association with us during the war,” said Robert Funseth, the senior deputy assistance secretary of state for refugee affairs who spent most of this decade negotiating their resettlement…”

    Phải nói môt cách chính sác rằng những người tù chính trị Việt Nam đi định cư tỵ nạn tại Mỹ theo một chương trình ra đi đặc biệt (a special program) nằm trong khuôn khổ của Chương Trình Ra Đi Có Trật Tự (Orderly Departure Program) chứ không phải theo chương trình HO (Humanitarian Operation) tưởng tượng nào cả. Cái gọi là chương trình HO chỉ là sự suy diễn từ các con số thứ tự của các danh sách những người tù chính trị đã được cộng sản trao cho Hoa Kỳ để phỏng vấn đi tỵ nạn tại Mỹ theo thứ tự: H.01, H.02…. H.10, H.11, H.12…

    Cộng sản và tay sai có thể lợi dụng cái danh xưng “HO” không Chính không Thực và Lập Lờ này cho những âm mưu đen tối của chúng. Chúng có thể tuyên truyền lếu láo rằng: “Không những đảng đã tha chết cho bọn tội phạm chiến tranh này, mà còn tổ chức cả một “Chiến Dịch Nhân Đạo/HO” để cho đi định cư tại ngoại quốc. Ra đến ngoại quốc đã không biết ơn lại còn đi đấu tranh, biểu tình chống lại đảng…” Sự kiện tù chính trị là một sự kiện có tính chính trị và lịch sử; phải xử dụng Danh cho Chính. Không thể Lộng Giả Thành Chân cái nguỵ danh “HO” để xuyên tạc sự thật lịch.

    Học tập cải tạo” là một nguỵ danh để che đậy 5 Tội Ác chống Loài Người (Crimes against Humanity) được dự liệu tại Điều 7 của Đạo Luật Rome (Article 7 of The Rome Statute) của bè lũ Việt gian cộng sản đối với quân, dân, cán, chính VNCH đã bị chúng giam cầm (imprisonment) một cách phi pháp sau ngày 30-4-1975. Đây cũng là một tội ác có tính lịch sử của lũ Việt gian cộng sản. Cái nguỵ danh “tù cải tạo/HO” phải được Chính Danh là: Tù Nhân Chính Trị và Nạn Nhân của Tội Ác chống Loài Người của Hồ Chí Minh và bè lũ cộng sản. Cũng cần phải nói thêm rằng khi dùng cái danh từ “cải tạo” của cộng sản là mắc mưu chúng bởi vì chúng tuyên bố lếu láo rằng vì các anh có “nợ máu” với nhân dân nên các anh phải đi “cải tạo,” và khi tự gọi mình là “tù cải tạo” tức là tự nhận mình có tội. Cũng như khi tự gọi mình là một “HO”- một cái nguỵ danh đã bị lộng giả thành chân để chỉ một người “tù cải tạo” – là tự từ bỏ cái căn cước người tù chính trị của mình. Cho nên, Chính Danh là vấn đề rất quan trọng cả về chính trị và lịch sử. Dùng Nguỵ Danh để che đậy và bóp méo một sự kiện lịch sử là tội đại gian và có tội đối với lịch sử.

    Đỗ Ngọc Uyển – Sanjose, California

  2. avatar Mỹ-Lan says:

    Trên thế-giới này, người dân bình-thường căm-ghét chế-độ cộng-sản cũng như người theo đạo Hồi sợ một chính-phủ dùng những đạo-luật của đạo Hồi (des charias/sharias) để cai-trị. Những ai khoái một trong hai thể-chế đó là những người cuồng-tín, không còn liêm-sỉ và lương-tri của loài người.

  3. avatar Lão Ngoan Đồng says:

    Bài viết nầy của Tác Giả Nguyễn Thu Trâm, đã kể rõ tội ác của bọn ăn cướp việt cộng gây ra cho dân Việt trên toàn cõi nước Việt Nam.
    Tuy nhiên, có một điều, xin các Tác Giả đừng dùng từ ngữ “bên thắng cuộc”, vì chữ thắng có nghĩa là tranh đua công bằng, mà trường hợp của “thắng cuộc” nầy không hơn không kém là hành động ăn cướp. Thay vào, xin nên dùng từ ngữ: BỌN ĂN CƯỚP.

  4. avatar HueLinh says:

    Bọn tà quyền Việt cộng là một lũ trí trá, giảo quyệt và tham tàn. Dùng đủ mọi thủ đoạn để tiến chiếm VNCH mà dám gọi là “bên thắng cuộc”. Đúng là một lũ cướp hung hãn, một lũ tay sai cho bọn Trung cộng không hơn không kém!

  5. “Cộng sản và tay sai có thể lợi dụng cái danh xưng “HO” không Chính không Thực và Lập Lờ này cho những âm mưu đen tối của chúng. Chúng có thể tuyên truyền lếu láo rằng: “Không những đảng đã tha chết cho bọn tội phạm chiến tranh này, mà còn tổ chức cả một “Chiến Dịch Nhân Đạo/HO” để cho đi định cư tại ngoại quốc”

    Tác giả Nguyễn Thu Trâm rất tinh tế.
    Tôi là một cựu tù ra đi theo chương trình
    Chính danh của Chánh Phủ Hoa Kỳ là:
    ” Orderly Departure Program For RELEASED DETAINEES”
    ( US. Closed Associates )
    Nghĩa là Chương trình ra đi trật tự DÀNH CHO TÙ NHÂN ĐƯỢC THẢ RA
    Không phải là cs NHÂN ĐẠO CÁI MẸ GÌ!
    Nó bán cựu tù nhân VNCH, nhận một số tiền viện trợ Mỹ
    C’est fini. Đừng xạo!

  6. avatar H Nguyen says:

    Trời ơi, đừng có bàn phải quấy về bọn CS nữa. Thiệt càng làm HN tôi càng thêm GHÉT CAY GHÉT ĐẮNG cái đám mọi rợ CS này …Grrrrrr…..

Leave a Reply

Your email address will not be published. Required fields are marked *

You may use these HTML tags and attributes: <a href="" title=""> <abbr title=""> <acronym title=""> <b> <blockquote cite=""> <cite> <code> <del datetime=""> <em> <i> <q cite=""> <strike> <strong>